Newfoundland ngoại hình oai vệ, khỏe mạnh, to con với cái đầu to. Tao nhã, dễ chịu, hòa đồng, nhanh nhẹn, dũng cảm. Cái mõm rộng, to và vuông ngắn. Tai hình tam giác nhỏ và treo xuống mặt. Đôi mắt nhỏ nâu sẫm, mà mắt không lộ ra như giống Saint Bernard. Mũi thường màu đen trừ nhũng con chó màu đồng thì có cái mũi màu nâu. Bàn chân kết với nhau giúp chúng bơi rất giỏi. Huyền đề chân sau thường được cắt bỏ từ khi còn bé. Đuôi buông thõng. Có bộ lông chống nước ở ngoài trơn mỏng và lớp trong dày. Những con chó được nuôi trong nhà thường bị mất đi lớp lông đó. Màu lông chủ yếu là màu đen thỉnh thoảng có chut màu trắng ở chân hoặc đuôi hay ngực, ngoài ra còn có màu đen và xanh, màu đồng, xám và Landseer ( trắng vá đen). Ở Mỹ và Anh thì màu này người ta vẫn tinh là giống Newfounfland nhưng ơt châu Âu thì lại được cho là giống khác. Landseer ở châu Âu có chân dài hơn, chung không to mà có ngoài hình thể thao hơn.

Tính khí:
Newfounfland là loài chó có tinh cách tuyệt vời, tốt bụng, dũng cảm, rộng rãi, thông minh, rất nhân bản. Lord Byron từng viết “ Dũng cảm nhưng không hung bạo, có đầy đủ tính tốt của một con người hoàn hảo”. Là con chó kiên nhẫn, ôn hòa với khách lạ, vâng lời chủ nhân. Chúng tự tin, kiêu hãnh, trầm tính, trung thành và đáng tin cậy với tính cách tuêyt vời. Chúng quyến luyến với chủ nhân và khó có thể sống được với người chủ mới. Thí thuông minh, đủ để tự làm những công việc độc lập nếu cần. Newfoundland có tính bảo vệ cao, chúng có thể nhận ra tình huống nguy hiểm cho gia đình và sẽ bảo vệ hết mình. Với nhưng con chó, muông thú, trẻ em hay người lạ đến mà không co ác sẽ được đón tiếp nồng hậu, tuy nhiên một số con đực tỏ ra khá dữ dằn với những con đực khác. Vui vẻ và ham chơi, yêu trẻ em, chúng như những người giữ trẻ. Rất hòa đồng. Thích những hoạt động ngoài trời, đòi hỏi được quan tâm. Newfoundland uống nước rất nhiều và chúng cũng thích được ướt. Chúng cũng có dãi nhưng có lẽ không nhiều bằng nhưng loài chó to khác. Trong thời còn là chó con chúng ăn rất nhiều, nhưng khi trưởng thành thì đòi hỏi chỉ như các giống chó tha mồi khác. Chúng rất thích bơi . Giống chó này có thể là hơi khó dạy. Người dạy phải là người hết sức nhẹ nhàng và cân bằng. Chúng rất nhạy cảm với âm vực giọng nói

Chiều cao: 69-74 cm ở chó đực và chó cái là 63-69 cm
Cân nặng: 59-68 kg chó đực và chó cái là : 45-54 kg

Điều kiện sống:
Có thể sống ở điều kện căn hộ nhưng se thụ động nếu không gian trật hẹp. Khó khăn khi sống nhưng nơi khi hậu nóng. Chúng thích hợp với những vùng có điều kiện khí hậu mát mẻ.
Sống : 9-15 năm
Xuất sứ:
Một số câu chuyện cho rằng giống chó này bắt nguồn từ nhưng con chó của thổ dân da đỏ hoạc từ những con chó gấu của người Viking. Một số lại tin rằng chúng có họ hàng gần với Labrador. Giả thuyết này bắt nguồn từ sự giống nhau của hai loài nhất là bộ lông có cấu tạo rất giống nhau. Và cũng có nhiều người cho rằng Newfoundland bắt nguồn từ những cón Tibetan mastiff được ngư dân đánh cá châu Âu đem đến Canada lai tạo với những giống chó địa phương mà thành, nơi chúng được dùng để kéo lưới hoạc kéo gỗ, đưa thư, đưa sữa và nhiều công việc khác. Newfoundland đã và vẫn là loài chó có bẳn năng bơi tuyệt vời của một con chó cứu nạn. Vào năm 1919 một con chó Newfoundland đã nhận huy chương Vàng vì đã cứu được 20 người trong một vụ đắm tàu. Và nó được mệnh danh là Saint Bernard dưới nước. Trong thế chiến thư 2, Newfoundland làm nhiệm vụ chuyên trở lương thực, vũ khí đạn dược chó quân đội trong điều kiện bão tuyết ở Alaska và đảo Aleutian.Ngày nay, an toàn đường thủy đã tốt hơn, nên chúng không còn được dùng nhiều nhưng chúng vẫn được nuôi rộng rãi bởi vẻ đẹp, tính cách tuyệt vời.

Đang cứu người
Nhóm : Lao động( nghiệp vụ)

Tổ chức công nhận
CKC, FCI, AKC, UKC, KCGB, CKC, ANKC, NKC, NZKC, APRI, ACR