H5N1
Super dog
Chú chó trung thành
   
Xương bò 13
Offline
Giới tính: 
Bài viết: 3333
|
 |
« vào lúc: Tháng Năm 11, 2007, 09:47:04 AM » |
|
A. Lịch sử thuần hóa giống chó nuôi (Kojima, 1995) Đến nay câu trả lời về tổ tiên nguồn gốc loài chó vẫn còn là một ẩn số. Chó được xếp vào nhóm Carnivore thuộc loài động vật có vú. Carnivore lại được chia ra làm tám họ động vật chính: Canidae (chó), Procyonidae (gấu trúc châu Mỹ), Felidae (mèo), Mustelidae (chồn), Ailuridae (gấu trúc), Ursidae (gấu), Viverridae (cầy hương) và Hyaenidae (linh cẩu). Chó nuôi hay còn gọi là chó nhà đuợc xếp vào họ Canidae. Trong họ Canidae, người ta lại phân loại làm bốn nhóm: nhóm chó (genus Canis), nhóm cáo (genus Vulpes), nhóm culpeo (genus Dusicyon) và bush dog (tất cả các nhóm chó hoang dã còn lại khác). B. Nguồn gốc thời tiền sử của chúng: Nhóm chó thuộc họ genus Canis đã có mặt trên trái đất cách nay gần một triệu năm ở châu Á và châu Âu, dần dần chúng di trú sang các lục địa khác và sang châu Mỹ. Vào thời kỳ đó, các châu lục châu Á và châu Mỹ không tách rời nhau. Căn cứ vào các mẫu hóa thạch người ta tìm thấy được ở châu Úùc, người ta tin rằng chúng đã hiện diện nơi đây trước khi các lục địa trôi ra xa. Các mảnh hóa thạch xa xưa nhất ở kỷ nguyên Mesolithic đã được đào tìm thấy ở Yorkshire của Anh Quốc; đem so sánh với mẫu hóa thạch cách nay hơn 500,000 năm của kỷ nguyên Paleolithic, thì người ta xác định chưa có sự ảnh hưởng của con người đối với loài chó trong các thời kỳ này. Các giống chó giao phối với nhau dựa trên điều kiện sinh thái môi trường tự nhiên của chúng, sự lai giống tự nhiên giữa các giống cáo và sói vì chúng có những tập tính săn bắt giống nhau.
C. Chó hoang và chó được thuần hoá (Kojima, 1995) Chó là động vật tương cận với chó sói hơn các loài động vật khác. Sói sống tập trung hầu hết ở Bắc Aâu, Bắc Mỹ và khu vực châu Á. Thông thường, các con vật sống ở xứ lạnh to con hơn, có màu lông nhạt hơn những con vật sống ở vùng ấm hơn (do nguyên lý sinh tồn) của chúng; và thường hung hăng hơn. Trong khi những con vật sống ở xứ ấm thì có màu lông vàng hơn, nhạt màu dần về phía bụng; và chúng ít hung dữ hơn. Đặc trưng màu lông này thường thấy ở giống chó nuôi trong nhà. Dù rằng sói thường là kẻ thù của con người, nhưng thực tế thì không phải như vậy: chúng rất ít khi tấn công người, nhưng thường dễ thân thiện với con ngừơi. Chó rừng thường đi săn từng đàn; nhưng chúng thường ăn thịt thối rửa của các con vật đã chết. Còn loại sói nhỏ con sống trên các thảo nguyên ở Bắc Mỹ, chúng có mõm nhọn, tai to và lớp đuôi dày; chúng dần dần ít dần đi do tác nhân của con người săn đuổi chúng để bảo vệ cho đàn gia súc. Còn những loại chó hoang khác ở Nam Mỹ như loài cáo ăn cua và chó Zorro. Chó Zorro có tai to, đuôi dày và vóc dáng đầy đặn. Người ta thường cho lai giống giữa chó nhà và các loài chó hoang này để tạo ra những con chó rất giỏi đi săn. Ví dụ như loài chó hoang ở Úc có tên gọi là Dingo, chúng ít khi nào sủa, nhưng khi được thuần hóa thành chó nhà, chúng lại sủa. Thế nhưng có sự giảm nhẹ về kích thước xảy ra sớm trong quá trình gia hóa, và những đặc điểm này cũng chung cho nhiều loài không riêng gì chó. Vùng mặt ngắn hơn và rộng hơn ở chó nhà. Xương hàm dưới lồi hơn dọc theo hướng bụng của nó và mấu mỏ quạ cũng thay đổi. Mấu này rộng và tròn trong hầu hết những loài chó hoang dã, nhưng trái lại trên chó nhà thì mấu mỏ quạ mảnh mai hơn và uốn cong tạo thành một mặt lõm sâu hơn ở bờ trước Tất cả những đặc tính nói trên là đặc trưng của nhóm chó, và đó là tập tính của các giống chó nhà ngày nay: hình dáng, tập tính và hành vi của chúng. Cũng có một số ngoại lệ, như loại chóù mõm ngắn Boxer, chó kiểng Chihuahua… nhưng nói chung chúng có nhiều đặc tính giống nhau như: vểnh tai lên khi tập trung, khứu giác thích đánh hơi, săn đuổi theo con mồi bằng cách dùng mũi ngửi, mắc những bệnh lý tương tự nhau như bệnh dại, hoặc bị giun ở tim, cách chúng tru, sủa hoặc biểu hiện sự đau đớn, cách thể hiện sự vui mừng như tai vểnh ngược ra sau và ngoắc đuôi; cách giận dữ (lông dựng đứng và nhe răng), cách chúng nằm (chổng bốn chân lên trời hay là cuộn đuôi lại giữa hai chân sau); cách đào bới.
SÓI ĐỎ Phân bố: Triều Tiên, Trung Quốc, Aán độ, Nepan, Mianma, các nước Đông Nam Á Nơi sống: rừng già Thức ăn: nai, heo rừng, gia súc,chim. Sinh sản: mang thai khoảng 9 tuần, đẻ mỗi lứa khoảng 4-5 con. Tình trạng: là loài thú hiếm, đang bị đe dọa tiệt chủng(bậc E) SÓI XÁM Phân bố: Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Á. Nơi sống: đồng cỏ, rừng thưa. Thức ăn: các loại thú nhỏ. Sinh sản: mang thai khoảng 62 ngày, đẻ mỗi lứa khoảng 3-4 con. Tình trạng: phân bố rộng nhưng ngày càng hiếm.
Theo bulldog-vn
|